Đây là mỏ Đại Hùng, thuộc 05-1A, bồn trũng Nam Côn Sơn, nằm ở vùng nước sâu 110 - 120 m, cách Vũng Tàu khoảng 265 km.
Mỏ Đại Hùng là một trong những mỏ dầu có điều kiện địa chất phức tạp nhất Việt Nam, với cấu trúc bị chia cắt mạnh bởi hệ thống đứt gãy, địa tầng đa dạng và điều kiện khai thác nhiều rủi ro. Đây cũng là những yếu tố khiến nhiều nhà thầu dầu khí quốc tế sau thời gian đầu khai thác đã đánh giá mỏ không còn hiệu quả và quyết định rút lui.
Dự án từng được định giá 1 USD giờ có doanh thu hơn 4,5 tỷ USD
Mỏ Đại Hùng từng là "bài toán khó" với nhiều nhà đầu tư nước ngoài. Ảnh: Petrovietnam
Trên thực tế, trữ lượng dầu khí của mỏ Đại Hùng được đánh giá qua kết quả khoan thăm dò của Vietsovpetro trong giai đoạn 1986 - 1990. Vào năm 1993, tổ hợp các nhà thầu quốc tế do Công ty dầu khí BHP Billiton (Úc) đại diện đã được giao điều hành để thăm dò, thẩm lượng, phát triển sớm mỏ Đại Hùng.
Tuy nhiên, thực tế quá trình quản lý khai thác mỏ lại gặp nhiều thử thách. Vì vậy, lần lượt các nhà đầu tư nước ngoài như BHP, Petronas (Malaysia) đều rút khỏi dự án, đồng thời để lại toàn bộ phương tiện, thiết bị khai thác đã đầu tư cho Petrovietnam, với mức giá 1 USD.
Đáng chú ý, sau khi giao cho Vietsovpetro điều hành và đối tác Zarubezhneft (Liên bang Nga) quyết định rút khỏi đề án, Tập đoàn Petrovietnam quyết định chuyển giao quyền điều hành đề án phát triển mỏ Đại Hùng cho Tổng công ty Thăm dò khai thác dầu khí (PVEP) kể từ tháng 10/2003.
Theo Petrovietnam, ThS Nguyễn Ngọc Trung, Phó Giám đốc Chi nhánh Thăm dò Khai thác Dầu khí Nam Côn Sơn (PVEP-NCS), đơn vị thành viên của Tổng công ty Thăm dò Khai thác Dầu khí - PVEP (thuộc hệ sinh thái Petrovietnam), khó khăn lớn nhất khi đó là đặc điểm địa chất của mỏ Đại Hùng rất phức tạp, cấu tạo phân mảnh, dị thường, trong khi điều kiện khai thác ngoài khơi xa rất khắc nghiệt. Hơn nữa, hiệu quả kinh tế của mỏ bị đặt dấu hỏi rất lớn.
Thế nhưng, thay vì đóng mỏ, PVEP đã quyết định bắt tay vào việc thực hiện với một hành trình nghiên cứu khoa học bền bỉ. Các chuyên gia Việt Nam nhận ra không thể áp dụng rập khuôn các mô hình quốc tế đắt đỏ vào một mỏ cận biên như Đại Hùng. Kết quả, một hệ thống giải pháp khoa học công nghệ được xây dựng hoàn toàn bằng nội lực đã được hình thành.
Năng lực làm chủ khoa học - công nghệ của kỹ sư Việt Nam được chứng minh ở mỏ Đại Hùng
Tại mỏ Đại Hùng, Việt Nam đã tự chủ thiết kế và lắp đặt các giàn đầu giếng cố định (WHP) thông qua chuỗi công nghệ EPCI. Ảnh: Petrovietnam
Theo Petrovietnam, nhóm nghiên cứu đã tiến hành ứng dụng công nghệ tái xử lý địa chấn 3D-PSDM trên nền tảng dị hướng TTI, qua đó giúp nhìn qua những đới nhiễu để chính xác hóa cấu trúc địa chất phức tạp. Đây cũng chính là bản đồ để các kỹ sư định vị chính xác vị trí các giếng khoan, nhằm tránh rủi ro đứt gãy và tối ưu hóa dòng chảy.
Bên cạnh đó, một trong những điểm nhấn công nghệ chính là việc chuyển đổi mô hình phát triển mỏ từ hệ thống giếng ngầm dưới đáy biển (Subsea) sang giàn đầu giếng cố định kết nối với giàn xử lý trung tâm. Cụ thể, thay vì phụ thuộc vào hệ thống khai thác ngầm tốn kém của nước ngoài, Việt Nam đã tự chủ hoàn toàn về chuỗi công nghệ EPCI (Thiết kế - Mua sắm - Chế tạo - Lắp đặt) cho các giàn đầu giếng cố định (WHP).
Đồng thời, việc thiết kế và xây dựng giàn WHP-DH02, giàn công nghệ "không người ở" (unmanned) đặt tại độ sâu 128 m nước, các kỹ sư PVEP-NCS đã nghiên cứu, ứng dụng công nghệ chân đế cọc váy và phương pháp hạ thủy đẩy trượt (skidding) từ sà lan phóng. Đây là giải pháp không chỉ giúp tiết kiệm hàng triệu USD chi phí thuê tàu cẩu siêu trường, siêu trọng của quốc tế, mà còn khẳng định năng lực thi công cơ khí của Việt Nam tại khu vực nước sâu.
Trên thực tế, kết quả đã chứng minh bản lĩnh của đội ngũ kỹ sư nội địa. Tính đến cuối năm 2025, dự án mỏ Đại Hùng đã mang lại doanh thu lũy kế trên 4,5 tỷ USD, nộp ngân sách Nhà nước hơn 650 triệu USD và dự kiến nâng lên 7,5 tỷ USD đến năm 2050, đồng thời ghi dấu mốc chuyến xuất bán dầu thứ 200. Như vậy, từ một mỏ dầu đứng trước nguy cơ bị đóng cửa, mỏ Đại Hùng đã được hồi sinh, đồng thời trở thành biểu tượng cho năng lực tự chủ công nghệ của người Việt.
Theo Báo điện tử Chính phủ, GS. TS Dương Ngọc Hải, nguyên Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, nhận định giá trị cốt lõi của công trình không nằm ở những con số doanh thu, thay vào đó là ở năng lực khoa học - công nghệ được hình thành trong suốt quá trình chinh phục một mỏ dầu đặc biệt phức tạp.
GS cho biết đã theo dõi mỏ Đại Hùng từ đầu những năm 1990, khi các đối tác nước ngoài còn triển khai dự án. Do đó, ông càng thấy rõ ý nghĩa của việc đội ngũ kỹ sư Việt Nam tiếp quản và đưa mỏ trở lại khai thác thành công sau khi nhiều nhà đầu tư quốc tế rút lui.
Theo GS, thành công của công trình đến từ việc các nhà khoa học Việt Nam chủ động nghiên cứu lại toàn bộ đặc điểm địa chất, đồng thời xây dựng các giải pháp phù hợp với điều kiện thực tế của mỏ. Đây cũng là minh chứng rõ nét cho giá trị của trí tuệ và năng lực khoa học - công nghệ trong nước.




