Phó Thủ tướng Phạm Gia Túc : "Không có quốc gia nào trở thành nước công nghiệp phát triển chỉ bằng lắp ráp"

01/10/2026 00:20

Cả nước hiện có hơn 7.000 doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ nhưng mới khoảng 30% tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu. Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc cho rằng Việt Nam cần chuyển từ “nội địa hóa theo tỷ lệ” sang “làm chủ năng lực”, đồng thời biến các dự án lớn thành những đơn hàng đầu tiên cho doanh nghiệp trong nước.

Phát biểu kết luận Hội thảo “Định hướng phát triển công nghiệp hỗ trợ Việt Nam” diễn ra sáng 30/9 tại Phú Thọ, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc nhấn mạnh công nghiệp hỗ trợ là ngành công nghiệp nền tảng, trực tiếp quyết định năng lực tự chủ, sức cạnh tranh và mức độ tham gia của nền kinh tế vào chuỗi giá trị toàn cầu. Đây cũng là vấn đề gắn với an ninh kinh tế và khả năng tự chủ của đất nước.

Công nghiệp hỗ trợ bao gồm các tầng sản xuất trung gian như vật liệu, linh kiện, phụ tùng, công nghệ chế tạo, thiết kế, đo lường và thử nghiệm. Theo Phó Thủ tướng, một quốc gia có thể lắp ráp những sản phẩm rất hiện đại nhưng vẫn chưa có nền tảng công nghiệp tự chủ nếu công nghiệp hỗ trợ còn yếu.

Hơn 7.000 doanh nghiệp nhưng công nghiệp hỗ trợ vẫn “rộng mà chưa sâu”

Theo số liệu chưa đầy đủ được Phó Thủ tướng trực dẫn tại hội thảo, Việt Nam hiện có hơn 7.000 doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ, trong đó khoảng 30% đã tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu. Một số tập đoàn trong nước cũng bắt đầu đảm nhận vai trò doanh nghiệp đầu chuỗi.

Tuy nhiên, Phó Thủ tướng nhận định công nghiệp hỗ trợ của Việt Nam vẫn trong tình trạng “rộng mà chưa sâu, nhiều mà chưa mạnh”. Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 77% tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2025 và 80,1% trong 8 tháng năm 2026, với tốc độ tăng 26,9%, trong khi xuất khẩu của khu vực kinh tế trong nước chỉ tăng 7,4%.

Các cơ quan chức năng được yêu cầu tiếp tục đánh giá doanh nghiệp Việt Nam thực sự tham gia và tạo ra bao nhiêu giá trị trong kim ngạch xuất khẩu của khu vực FDI. Việc làm rõ con số này là cơ sở để xác định đúng thực chất năng lực của ngành công nghiệp hỗ trợ trong nước.

Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới được dẫn tại hội thảo, tỷ lệ doanh nghiệp Việt Nam tham gia chuỗi giá trị toàn cầu mới đạt khoảng 18% và chủ yếu tập trung ở các doanh nghiệp lớn. Tỷ lệ cung ứng trong nước cho công nghiệp công nghệ cao chỉ khoảng 5-10%, trong khi nhiều công đoạn như đúc, rèn, xử lý nhiệt và xử lý bề mặt vẫn còn khoảng trống.

Những hạn chế này bắt nguồn từ hàng loạt điểm nghẽn mang tính hệ thống, gồm thiếu thị trường dẫn dắt, thiếu doanh nghiệp đầu chuỗi đặt hàng ổn định, chính sách ưu đãi chưa phù hợp với doanh nghiệp nhỏ và vừa, hạ tầng tiêu chuẩn và thử nghiệm còn yếu. Nguồn nhân lực vẫn trong tình trạng “thừa thầy, thiếu thợ”, sự phối hợp giữa các bên chưa chặt chẽ và hiệu quả của chính sách chưa được đo lường chính xác.

Phó Thủ tướng cho rằng tư duy thu hút đầu tư cũng cần chuyển mạnh từ số lượng sang chất lượng, ưu tiên công nghệ cao, giá trị gia tăng cao, khả năng tạo việc làm và đóng góp cho năng lực tự chủ của nền kinh tế. Để tham gia chuỗi cung ứng, doanh nghiệp Việt Nam phải đủ sức đáp ứng các tiêu chuẩn của doanh nghiệp đầu chuỗi và thích ứng khi sản phẩm, mẫu mã liên tục thay đổi.

Hơn 7.000 doanh nghiệp nhưng công nghiệp hỗ trợ vẫn “rộng mà chưa sâu”, Phó Thủ tướng nhấn mạnh:

Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc

Chuyển từ nội địa hóa theo tỷ lệ sang làm chủ năng lực

Công nghiệp hỗ trợ Việt Nam đang đứng trước hai nhiệm vụ phải thực hiện đồng thời. Một mặt, Việt Nam cần khắc phục những điểm yếu còn tồn tại của quá trình công nghiệp hóa truyền thống; mặt khác, không để các ngành mới như bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, robot, pin, năng lượng mới và hàng không vũ trụ đi vào “vết xe cũ”, có sản phẩm cuối cùng nhưng phải nhập gần như toàn bộ linh kiện và vật liệu.

Từ thực tế trên, Phó Thủ tướng đề nghị đổi mới cách tiếp cận thông qua 5 chuyển đổi căn bản. Trước hết là chuyển từ “nội địa hóa theo tỷ lệ” sang “làm chủ năng lực”, xác định rõ những năng lực Việt Nam cần tự chủ và những năng lực phải bảo đảm khả năng thay thế, thay vì đặt mục tiêu tự sản xuất tất cả đầu vào bằng mọi giá.

Việt Nam cũng cần chuyển từ hỗ trợ dàn trải theo tên ngành sang tập trung theo chuỗi, công đoạn và những bài toán lớn của đất nước. Chính sách ưu đãi đầu vào phải được thay bằng hỗ trợ theo kết quả, có điều kiện và thời hạn, trong đó Nhà nước đóng vai trò “vốn mồi”, chia sẻ rủi ro nhưng không để phát sinh cơ chế xin - cho.

Hai chuyển đổi còn lại là chuyển từ chú trọng thu hút FDI sang sử dụng hiệu quả FDI, tăng liên kết giữa doanh nghiệp nước ngoài và doanh nghiệp Việt Nam; đồng thời chuyển từ quản lý theo hoạt động sang quản lý theo kết quả. Nguồn lực ngân sách phải tạo thêm nhà cung ứng đạt chuẩn và gia tăng giá trị được tạo ra trong nước.

Xuyên suốt quá trình này, doanh nghiệp được xác định là trung tâm và chủ thể, trong đó khu vực tư nhân cần được đặc biệt chú trọng. Nhà nước giữ vai trò kiến tạo và tạo lập thị trường ban đầu; thị trường trong nước là điểm tựa, còn xuất khẩu là thước đo cuối cùng của năng lực cạnh tranh.

Mục tiêu nội địa hóa 40-45% vào năm 2030

Đến năm 2030, một số ngành công nghiệp chủ lực đặt mục tiêu đạt tỷ lệ nội địa hóa bình quân 40-45%. Trong đó, điện tử hướng tới tỷ lệ 25-30%, cơ khí chế tạo 40%, ô tô 22-30%, dệt may 60%, da giày 60-65% và công nghiệp công nghệ cao 15%; chỉ số năng lực cạnh tranh công nghiệp của Việt Nam phấn đấu thuộc nhóm ba nước dẫn đầu ASEAN.

Đến năm 2035, tỷ lệ nội địa hóa trong ngành cơ khí chế tạo được đặt mục tiêu đạt 50%, còn dệt may đạt 70%. Doanh nghiệp Việt Nam được kỳ vọng có khả năng chủ động trong các khâu nghiên cứu, thiết kế và chế tạo.

Tầm nhìn đến năm 2045 là công nghiệp hỗ trợ Việt Nam làm chủ công nghệ lõi trong các ngành công nghiệp nền tảng, tham gia những khâu có giá trị cao của chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu. Ngành công nghiệp trong nước cũng phải đủ khả năng duy trì sản xuất trong mọi tình huống.

Để hiện thực hóa các mục tiêu, Việt Nam cần hình thành mạng lưới nhà cung ứng cấp 1 và cấp 2 là doanh nghiệp trong nước cho các tập đoàn, doanh nghiệp đầu chuỗi. Mỗi vùng công nghiệp trọng điểm cần có trung tâm thử nghiệm, chứng nhận dùng chung được quốc tế công nhận, đồng thời sớm xây dựng bộ chỉ tiêu thống kê chính thức về công nghiệp hỗ trợ.

Hơn 7.000 doanh nghiệp nhưng công nghiệp hỗ trợ vẫn “rộng mà chưa sâu”, Phó Thủ tướng nhấn mạnh:

Trưởng ban Chính sách, chiến lược Trung ương Nguyễn Thanh Nghị, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc và các đại biểu tham quan gian trưng bày sản phẩm tại Hội thảo

Biến dự án lớn thành đơn hàng cho doanh nghiệp Việt

Phó Thủ tướng đề nghị nghiên cứu cơ chế để đầu tư công, các dự án hạ tầng chiến lược, hoạt động mua sắm công và mua sắm của doanh nghiệp nhà nước trở thành “đơn đặt hàng đầu tiên” cho doanh nghiệp trong nước. Các dự án lớn cần xây dựng phương án sử dụng hàng hóa, dịch vụ trong nước dựa trên năng lực đáp ứng, giá trị và hàm lượng công nghệ.

Các tập đoàn trong nước được định hướng chuyển từ mua module hoàn chỉnh sang công bố tiêu chuẩn, đặt hàng từng phân hệ và đồng hành với nhà cung ứng Việt Nam. Việc thu hút FDI cần có chọn lọc, ưu tiên các dự án có trung tâm nghiên cứu và phát triển, hoạt động chuyển giao công nghệ và chương trình phát triển nhà cung ứng trong nước.

Hạ tầng kỹ thuật và nghiên cứu ứng dụng dùng chung cần ưu tiên cho cơ khí chính xác, điện - điện tử, bán dẫn, pin và vật liệu mới, theo hướng Nhà nước đầu tư và doanh nghiệp đặt hàng. Mỗi nhiệm vụ công nghệ phải tạo ra đầu ra cụ thể là năng lực sản xuất trong nước, tránh đầu tư nghiên cứu và thử nghiệm dàn trải, kém hiệu quả.

Bên cạnh đó, Việt Nam cần phát triển nguồn nhân lực chiến lược, nhất là kỹ sư thiết kế, kỹ sư hệ thống, tổng công trình sư, thợ gia công chính xác và kỹ thuật viên phòng sạch. Hoạt động đào tạo phải chuyển mạnh theo nhu cầu xã hội và đơn đặt hàng thực tế của doanh nghiệp.

Các công cụ tài chính, tín dụng cũng cần chuyển trọng tâm từ ưu đãi thuế sang hỗ trợ dựa trên chi phí thực tế, phát triển tín dụng chuỗi cung ứng và cho vay dựa trên hợp đồng, đơn hàng cũng như hiệu quả của doanh nghiệp. Không gian phát triển được tổ chức lại theo các cụm liên kết ngành và khu công nghiệp chuyên ngành có hạ tầng xử lý môi trường tập trung.

Phó Thủ tướng yêu cầu Bộ Công Thương ban hành kế hoạch hành động thực hiện Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ giai đoạn 2026-2028 trước ngày 30/10/2026. Kế hoạch phải xác định danh mục chuỗi, phân hệ ưu tiên, trách nhiệm của từng đơn vị và các mốc kiểm tra sau 12 tháng, 24 tháng; đồng thời, Bộ Công Thương phải khẩn trương hoàn thiện dự án Luật Công nghiệp trọng điểm để trình Chính phủ.

Các tập đoàn, tổng công ty nhà nước được yêu cầu nghiên cứu lộ trình nội địa hóa và tăng đặt hàng trong nước từ nay đến ngày 30/6/2027. Các địa phương, trước hết là những trung tâm công nghiệp và tỉnh Phú Thọ, phải rà soát quy hoạch, quỹ đất, hạ tầng và các điều kiện cần thiết, coi phát triển công nghiệp hỗ trợ là nhiệm vụ quan trọng.

Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc nhấn mạnh không có quốc gia nào trở thành nước công nghiệp phát triển nếu chỉ dựa vào hoạt động lắp ráp. Chính phủ sẽ chỉ đạo quyết liệt theo tinh thần "việc đã nói thì phải làm, việc đã giao thì phải có địa chỉ, có thời hạn và có kết quả đo đếm được", thúc đẩy công nghiệp hỗ trợ có bước phát triển mới, đóng góp vào năng lực tự chủ và sức cạnh tranh của nền kinh tế.

Bạn đang đọc bài viết "Phó Thủ tướng Phạm Gia Túc : "Không có quốc gia nào trở thành nước công nghiệp phát triển chỉ bằng lắp ráp"" tại chuyên mục THƯƠNG TRƯỜNG. Mọi thông tin phản hồi, góp ý xin gửi về địa chỉ email: phutrachnoidung@gmail.com