Đề xuất giới hạn khoản cho vay ra nước ngoài không quá 200 triệu USD mỗi năm

19/06/2026 16:32

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đang lấy ý kiến đối với Dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ quy định về điều kiện, trình tự, thủ tục xem xét, chấp thuận cho tổ chức kinh tế cho vay ra nước ngoài, bảo lãnh cho người không cư trú. Dự thảo được xây dựng nhằm hướng dẫn thực hiện quy định tại Pháp lệnh Ngoại hối về việc tổ chức kinh tế thực hiện cho vay ra nước ngoài, bảo lãnh cho người không cư trú khi được Thủ tướng Chính phủ cho phép.

Theo Ngân hàng Nhà nước, việc xây dựng Quyết định nhằm tạo cơ sở pháp lý để các tổ chức kinh tế có nhu cầu thực hiện hoạt động cho vay ra nước ngoài, bảo lãnh cho người không cư trú nắm rõ điều kiện, hồ sơ, trình tự, thủ tục xin chấp thuận; đồng thời quy định trách nhiệm của các cơ quan liên quan trong quá trình thẩm định, xử lý hồ sơ và trình cấp có thẩm quyền xem xét quyết định.

Dự thảo gồm 5 chương, 22 điều, quy định về điều kiện cho vay, bảo lãnh; thẩm quyền xem xét, chấp thuận; trình tự, thủ tục thực hiện; trách nhiệm của các cơ quan nhà nước và tổ chức kinh tế có liên quan.

Điều kiện về cho vay, bảo lãnh

Dự thảo quy định tổ chức kinh tế được xem xét cho vay hoặc bảo lãnh cho người không cư trú khi đáp ứng đồng thời các điều kiện liên quan đến đối tượng vay vốn, năng lực tài chính của bên cho vay và điều kiện của khoản vay, khoản bảo lãnh.

Về đối tượng được vay hoặc được bảo lãnh, dự thảo quy định tổ chức kinh tế chỉ được thực hiện giao dịch đối với công ty mẹ hoặc các công ty thành viên ở nước ngoài có cùng công ty mẹ với bên cho vay, bên bảo lãnh. Ngoài ra, đối tượng được vay hoặc được bảo lãnh còn bao gồm Chính phủ nước ngoài hoặc các tổ chức nước ngoài được Chính phủ nước ngoài bảo lãnh theo các thỏa thuận giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ các nước.

Ảnh minh họa

Đối với tổ chức kinh tế thực hiện cho vay hoặc bảo lãnh, dự thảo đưa ra một số điều kiện về thời gian hoạt động và tình hình tài chính. Theo đó, doanh nghiệp phải được thành lập hợp pháp theo quy định của pháp luật Việt Nam và có thời gian hoạt động tối thiểu 2 năm đối với trường hợp cho vay, bảo lãnh gắn với dự án đầu tư ra nước ngoài. Đối với các khoản cho vay, bảo lãnh không gắn với dự án đầu tư ra nước ngoài, thời gian hoạt động tối thiểu là 5 năm.

Trong hai năm liền kề trước thời điểm nộp hồ sơ đề nghị chấp thuận, doanh nghiệp phải có kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh có lãi theo báo cáo tài chính hợp nhất đã được kiểm toán bởi tổ chức kiểm toán độc lập được phép hoạt động hợp pháp tại Việt Nam.

Tại thời điểm lập phương án cho vay hoặc bảo lãnh, tổ chức kinh tế không được có nợ xấu với hệ thống ngân hàng và không có nợ thuế với ngân sách nhà nước.

Về các chỉ tiêu tài chính, dự thảo yêu cầu doanh nghiệp duy trì tỷ lệ nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu theo quy định hiện hành. Đối với doanh nghiệp không phải doanh nghiệp nhà nước, tỷ lệ nợ phải trả tối đa không quá 3 lần vốn chủ sở hữu được ghi nhận trên báo cáo tài chính hợp nhất quý hoặc năm gần nhất.

Ngoài các điều kiện đối với chủ thể thực hiện giao dịch, dự thảo cũng quy định các yêu cầu đối với khoản cho vay và khoản bảo lãnh.

Theo đó, tổ chức kinh tế không được sử dụng vốn vay nước ngoài để cho vay ra nước ngoài hoặc bảo lãnh cho người không cư trú. Trường hợp sử dụng vốn vay từ tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam phải tuân thủ quy định hiện hành về hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng.

Đối với các khoản cho vay hoặc bảo lãnh không gắn với dự án đầu tư ra nước ngoài, nguồn vốn thực hiện phải là nguồn ngoại tệ tự có phát sinh từ hoạt động sản xuất, kinh doanh được phép thu ngoại tệ theo quy định. Doanh nghiệp không được sử dụng nguồn ngoại tệ mua bằng đồng Việt Nam từ các tổ chức tín dụng hoặc chi nhánh ngân hàng nước ngoài để thực hiện hoạt động này.

Dự thảo cũng quy định cụ thể về giới hạn cho vay và bảo lãnh. Đối với các khoản cho vay hoặc bảo lãnh gắn với dự án đầu tư ra nước ngoài, số tiền cho vay hoặc thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh phải nằm trong hạn mức cho vay, hạn mức bảo lãnh và phù hợp với quy mô vốn đầu tư được ghi nhận tại Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài hoặc thông tin dự án được khai báo theo quy định.

Đối với hoạt động cho vay không gắn với dự án đầu tư ra nước ngoài, quy mô khoản cho vay tối đa được quy định là 200 triệu USD mỗi năm hoặc ngoại tệ khác có giá trị tương đương.

Về mục đích sử dụng vốn, khoản vay hoặc khoản bảo lãnh phải phục vụ thực hiện dự án đầu tư ra nước ngoài đã được cấp phép hoặc phục vụ hoạt động kinh doanh phù hợp với phạm vi hoạt động được phép của bên đi vay, bên được bảo lãnh tại nước sở tại.

Dự thảo cũng yêu cầu tổ chức kinh tế xây dựng phương án cho vay, bảo lãnh với các nội dung như thông tin bên vay, bên được bảo lãnh; hạn mức cho vay, bảo lãnh; mục đích sử dụng vốn; phương án cân đối nguồn ngoại tệ; kế hoạch giải ngân, thu hồi nợ; đánh giá tính khả thi của dự án; khả năng tài chính của bên đi vay, bên được bảo lãnh và các biện pháp phòng ngừa rủi ro.

Quy trình xem xét đối với các khoản vay, bảo lãnh quy mô lớn

Một trong những nội dung trọng tâm của dự thảo là quy định cụ thể các trường hợp phải trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, chấp thuận trước khi thực hiện.

Theo dự thảo, Thủ tướng Chính phủ sẽ xem xét cấp văn bản chấp thuận đối với các khoản cho vay gắn với dự án đầu tư ra nước ngoài có vốn đầu tư từ 1.600 tỷ đồng trở lên hoặc dự án đề xuất áp dụng cơ chế, chính sách hỗ trợ đặc biệt.

Đối với các khoản cho vay không gắn với dự án đầu tư ra nước ngoài, trường hợp giá trị khoản vay từ 1.600 tỷ đồng trở lên cũng thuộc thẩm quyền xem xét của Thủ tướng Chính phủ.

Các khoản bảo lãnh có giá trị cam kết bảo lãnh từ 1.600 tỷ đồng trở lên cũng phải thực hiện thủ tục xin chấp thuận.

Ngoài ra, các khoản cho vay hoặc bảo lãnh đối với Chính phủ nước ngoài hoặc tổ chức nước ngoài được Chính phủ nước ngoài bảo lãnh theo thỏa thuận giữa các Chính phủ cũng thuộc diện xem xét của Thủ tướng Chính phủ trong các trường hợp được quy định tại dự thảo.

Dự thảo đồng thời quy định việc điều chỉnh các khoản vay hoặc bảo lãnh đã được chấp thuận. Trong đó, trường hợp tăng giá trị khoản vay hoặc khoản bảo lãnh trên 10% so với giá trị đã được chấp thuận hoặc thay đổi bên cho vay, bên bảo lãnh thì phải thực hiện thủ tục xin điều chỉnh văn bản chấp thuận.

Đối với các trường hợp không thuộc diện phải xin chấp thuận của Thủ tướng Chính phủ, tổ chức kinh tế được thực hiện khoản vay hoặc khoản bảo lãnh khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định và thực hiện đăng ký, đăng ký thay đổi với Ngân hàng Nhà nước theo quy định về quản lý ngoại hối…

Bạn đang đọc bài viết "Đề xuất giới hạn khoản cho vay ra nước ngoài không quá 200 triệu USD mỗi năm" tại chuyên mục TÀI CHÍNH. Mọi thông tin phản hồi, góp ý xin gửi về địa chỉ email: phutrachnoidung@gmail.com hoặc liên hệ hotline: 0903 78 12 09.